Beilan Island/Translated/VI: Difference between revisions
Created page with "{{Lore}} '''Beilan Island/Đảo Beilan''' (北兰岛, Bắc Lan Đảo) là một hòn đảo hư cấu thuộc quyền quản lý của chính quyền thành phố Thượng Hải, Trung Quốc, và là địa điểm xảy ra hai "Sự kiện đảo Bắc Lan". . ==Nguồn Gốc== Địa điểm di tích được chỉ định là “Căn cứ Nghiên cứu Công nghệ Hạng A số 27”, nơi GAVIRUL được tìm thấy vào năm 1962, nằm sâu 6..." |
No edit summary |
||
| Line 5: | Line 5: | ||
==Nguồn Gốc== | ==Nguồn Gốc== | ||
Địa điểm [[ | Địa điểm [[relics|di tích]] được chỉ định là “Căn cứ Nghiên cứu Công nghệ Hạng A số 27”, nơi [[GAVIRUL]] được tìm thấy vào năm 1962, nằm sâu 67 mét dưới lòng đất của hòn đảo. Địa điểm di tích này đã bị đóng cửa ngay sau khi GAVIRUL được phát hiện vì người ta cho rằng nơi này không còn chứa hiện vật nào thú vị nữa.<ref name=Files2 /> Một số sự cố đã xảy ra trong quá trình thăm dò các địa điểm một cách thiếu cẩn trọng, làm phát tán chất lỏng phóng xạ [[Collapse Fluid]].<ref name=Files3>{{cite|cf1|part. 3}}</ref> Lối vào khu di tích đã bị chặn hoàn toàn khi các tòa nhà được xây dựng trên đó vào năm 1974, trong quá trình mở rộng đô thị của Thượng Hải.<ref name=Files2>{{cite|cf1|part. 2}}</ref> | ||
==Sự kiện đảo Beilan lần thứ nhất== | ==Sự kiện đảo Beilan lần thứ nhất== | ||
Latest revision as of 04:19, 1 June 2026
Beilan Island/Đảo Beilan (北兰岛, Bắc Lan Đảo) là một hòn đảo hư cấu thuộc quyền quản lý của chính quyền thành phố Thượng Hải, Trung Quốc, và là địa điểm xảy ra hai "Sự kiện đảo Bắc Lan". .
Nguồn Gốc
Địa điểm di tích được chỉ định là “Căn cứ Nghiên cứu Công nghệ Hạng A số 27”, nơi GAVIRUL được tìm thấy vào năm 1962, nằm sâu 67 mét dưới lòng đất của hòn đảo. Địa điểm di tích này đã bị đóng cửa ngay sau khi GAVIRUL được phát hiện vì người ta cho rằng nơi này không còn chứa hiện vật nào thú vị nữa.[1] Một số sự cố đã xảy ra trong quá trình thăm dò các địa điểm một cách thiếu cẩn trọng, làm phát tán chất lỏng phóng xạ Collapse Fluid.[2] Lối vào khu di tích đã bị chặn hoàn toàn khi các tòa nhà được xây dựng trên đó vào năm 1974, trong quá trình mở rộng đô thị của Thượng Hải.[1]
Sự kiện đảo Beilan lần thứ nhất
Sự kiện đảo Beilan lần thứ nhất xảy ra vào ngày 17 tháng 1 năm 2030 và dẫn đến một đám mây Collapse Fluid kéo dài cả thế kỷ, quét sạch sự sống hữu cơ ở nhiều khu vực trên Trái đất và gây ra số lượng lớn các ca nhiễm Bệnh truyền nhiễm phát thải thấp Eurosky (Eurosky Low-Emission Infectious Disease, ELID), đẩy thế giới hiện đại vào hỗn loạn và cuối cùng khiến các quốc gia đang gặp khó khăn phải bắt đầu Chiến tranh thế giới thứ ba.
Background
Rào chắn bên ngoài của khu di tích bị lãng quên đã bị phá vỡ trong một hoạt động khoan dân sự, và chất phóng xạ chứa trong khu vực đã rò rỉ ra bề mặt, lây nhiễm ELID cho con người. Những người bị nhiễm bệnh hung bạo đã được Lực lượng Cảnh sát Vũ trang Đặc nhiệm (Special Circumstances Armed Police Force, SCAPF) xử lý, hoạt động dưới danh nghĩa "Lực lượng Cảnh sát Gìn giữ Hòa bình Đặc biệt" để tránh gây phẫn nộ trong dư luận, và chính quyền Thượng Hải chỉ đơn giản là cách ly đảo Bắc Lan mà không báo cáo các ca nhiễm bệnh cho chính phủ Trung Quốc, đánh giá thấp mức độ nghiêm trọng của tình hình.
Các trường hợp ELID đã biến mất sau thời gian cách ly và 15 tháng sau khi nhiễm bệnh, mức độ phong tỏa của đảo Beilan đã được hạ xuống cấp 4. Việc thiếu kiểm soát và giám sát đã tạo điều kiện cho sự việc xảy ra.[2]
Sự cố
Vụ việc xảy ra lúc 15:17 ngày 17 tháng 1 năm 2030. Theo chính phủ Trung Quốc,[3] bảy học sinh trung học đã vượt qua bức tường cách ly và bị những người nhiễm ELID tấn công. Lực lượng SCAPF đã triển khai bốn đặc vụ được trang bị súng phóng lựu AA-03D. Lực lượng đặc nhiệm nhỏ này tỏ ra không đủ khả năng chống lại những kẻ bị nhiễm bệnh và đã cố gắng phong tỏa lối vào khu vực di tích bằng chất nổ. Vụ nổ khiến toàn bộ khu vực sụp đổ, đột ngột nén một lượng lớn Collapse Fluid. Mật độ hạt tăng cao đột ngột làm tăng nhiệt độ bên trong khu vực di tích, dẫn đến một vụ nổ kinh hoàng san bằng Thượng Hải.[2] Chấn động của vụ nổ có thể cảm nhận được tận Hồng Kông. Hàng chục nghìn tấn Collapse Fluid đã bị đẩy ra ngoài tầng bình lưu trong một đám mây lớn và hơn một trăm tinh thể chứa Collapse Fluid đã bị bắn ra khỏi khí quyển trong vụ nổ và sau đó rơi xuống lục địa Á Âu hoặc Thái Bình Dương cách đó hơn một nghìn kilômét. Là tâm điểm của sự cố, Thượng Hải trở thành Vùng Đỏ đầu tiên, khiến mọi cuộc điều tra về di vật này trở nên bất khả thi trong hàng chục năm.
Ngoài Thượng Hải, các thành phố Tô Châu, Vô Tích và Nam Thông cũng bị san bằng ngay lập tức, trong khi vùng bờ biển phía đông Trung Quốc nhanh chóng bị ảnh hưởng bởi đám mây Collapse Fluid lan rộng trên diện tích hơn 1500 km, gây ra 400 triệu thương vong trong giờ đầu tiên. Khu vực bị ô nhiễm ban đầu ước tính là 1,5 triệu km vuông đã được thu hẹp xuống còn 1,1 triệu km vuông do một vùng áp cao ở phía tây bắc làm tăng cường gió thổi về phía tây. Nhờ hệ thống viễn thông vẫn hoạt động được vì vụ nổ không tạo ra xung điện từ, 15 triệu người đã được sơ tán khỏi khu vực bị ô nhiễm, trong khi các quan chức chính phủ đã trú ẩn trong các hầm trú ẩn ở Bắc Kinh chuyển đến thủ đô mới Tây An. Khoảng 870 triệu người đã chết trực tiếp do vụ nổ và sự hoảng loạn lan rộng trong khu vực, với việc Hồng Kông áp đặt lệnh giới nghiêm cùng ngày để kiểm soát nạn cướp bóc.
Cơ quan Di vật Liên Hợp Quốc (United Nations Relics Agency, UNRA) nhanh chóng tham gia vào tình hình do sự hiện diện của một số thành viên tại Hồng Kông vào thời điểm đó, bao gồm cả Raeder Rossartre. Họ đã phát động Chiến dịch Noah để sơ tán người dân khỏi các khu vực bị ô nhiễm, nhưng chính phủ Trung Quốc ban đầu từ chối sự giúp đỡ quốc tế.[3] Các cuộc điều tra sau đó đã đặt ra nghi vấn về nguồn gốc thực sự của vụ việc, do đội SCAPF không có đủ hỏa lực để kích nổ các viên nang tinh thể lỏng chống nổ bọc thép ngay từ đầu.[3]
Hậu quả
Sự cố này sẽ khiến khoảng 36% bề mặt Trái đất không thể sinh sống được [4] (Các nguồn khác đề cập đến "một nửa thế giới".).[5] Các khu vực nằm trên đường đi của đám mây Collapse Fluid đã bị tàn phá và các vùng đất lân cận chứng kiến sự gia tăng đột biến các trường hợp ca nhiễm ELID.[2] Đám mây lan rộng vào tầng bình lưu, làm gián đoạn liên lạc vệ tinh ở nhiều quốc gia.[6] Khi đám mây di chuyển, nhiều khu công nghiệp bị phá hủy và nhiều công ty phải đóng cửa. Ba năm sau sự cố, việc mạo hiểm ra ngoài môi trường khép kín gây nguy hiểm cho con người, làm dấy lên sự quan tâm đến robotics để thay thế vai trò công nhân và binh lính.[7] Phải mất một thế kỷ để đám mây chính tan biến, nhưng người ta ước tính rằng các đám mây Collapse Fluid nhỏ hơn sẽ tiếp tục là mối đe dọa đối với nhân loại trong 100.000 năm tiếp theo.[2]
Giám đốc UNRA, Raeder Rossartre, là một nhân vật chủ chốt trong hậu quả của sự cố. Rossartre đã tham gia vào nhiều kế hoạch cứu người dân khỏi những đám mây Collapse, nhưng tất cả đều thất bại do chính trị và bất ổn xã hội. Từ năm 2031 đến năm 2033, ông đã viết Báo cáo Điều tra Sự cố Đảo Beilan, trong đó ông trình bày lý thuyết về thời kỳ đen tối thúc đẩy sự hình thành một chính phủ thế giới để ngăn chặn sự hủy diệt của nhân loại. Thảm họa này đã khởi đầu một làn sóng bảo thủ trên toàn thế giới.[3] Châu Âu đã khởi đầu một kỷ nguyên thực dân mới ở châu Phi để bù đắp cho những vùng đất đã mất,[8] trong khi Trung Quốc và Nga tập trung vào việc cải tạo các khu vực công nghiệp bị ô nhiễm thay vì bỏ hoang chúng. [9] Việc đổ lỗi lẫn nhau về chính trị và sự cạn kiệt nhanh chóng các vùng đất có thể sinh sống và các nguồn tài nguyên cơ bản trên toàn thế giới đã làm suy yếu quan hệ chính trị quốc tế cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ ba bùng nổ vào năm 2045, làm suy yếu thêm các quốc gia.[2][10]
Các chính phủ chỉ thực hiện các biện pháp sơ tán dân cư khỏi các khu vực bị ô nhiễm sau khi chiến tranh kết thúc, khiến nhiều người chết vì ELID trong khi tìm kiếm Vùng Xanh. Ngay cả khi đó, chính quyền yếu kém và thiếu nguồn lực tài chính đã dẫn đến các chính sách tái định cư kém hiệu quả và tạo ra sự bất ổn chính trị. Chỉ có sự trỗi dậy của URNC mới dẫn đến việc tạo ra các chương trình tị nạn hiệu quả.[4]
Một hậu quả khác của sự kiện này là sự sụp đổ nghiêm trọng của các hệ thống tín ngưỡng truyền thống trên toàn thế giới. Trong cuộc điều tra dân số thế giới cuối cùng của Liên Hợp Quốc năm 2045, chỉ còn 5% nhân loại vẫn theo một tín ngưỡng cụ thể. Sự vỡ mộng hàng loạt là kết quả của việc thiếu vắng sự cứu rỗi khi thế giới bị nhấn chìm bởi điều được coi là ngày tận thế, và việc từ chối sự tự cứu rỗi đã thúc đẩy lòng ích kỷ và sự hủy diệt. Trong và sau Thế chiến thứ ba, các tín ngưỡng cũ đã được thay thế bằng các tín ngưỡng mới hứa hẹn sự siêu việt thay vì sự cứu rỗi thiêng liêng, thường thông qua sự lây nhiễm ELID.[5]
Nam Hàn Quốc
Do gió tây thổi đến, khu vực thứ hai bị ảnh hưởng bởi đám mây Collapse đang lan rộng là bán đảo Nam Hàn Quốc, nơi chịu tổn thất hơn 10 triệu người trong giai đoạn đầu. Lực lượng UNRA và quân đồn trú Mỹ tại Hàn Quốc nhanh chóng thiết lập hàng chục khu vực an toàn, bảo vệ 1,1 triệu người dân vào tháng 2 năm 2030. Giám sát trên không của Mỹ báo cáo rằng 5 triệu cư dân ở Bắc Triều Tiên đã tìm nơi trú ẩn dưới dãy núi Trường Bạch. Cuối tháng đó, quân đội Mỹ rời khỏi khu vực và chuyển đến Nhật Bản.
Ngày 3 tháng 3 năm 2030, Chiến tranh Triều Tiên lần thứ hai bắt đầu khi Bắc Triều Tiên xâm lược Nam Hàn Quốc, buộc UNRA phải rút khỏi đất nước. Sau đó vào năm 2032, các phiên điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ tiết lộ rằng Tổng thống và quân đội Hoa Kỳ đã cố gắng sử dụng sự kiện này để gây áp lực buộc Triều Tiên chấp nhận các yêu cầu ngoại giao, với việc quân đội Hoa Kỳ bí mật ngăn chặn bất kỳ công dân Triều Tiên nào vượt biên sang Hàn Quốc trừ khi chính phủ của họ tuân thủ. Các phiên điều trần cũng tiết lộ rằng vào ngày 16 tháng 3 năm 2030, Không quân số 13 đã bí mật tiến hành một cuộc oanh tạc trên bán đảo Triều Tiên mang tên Chiến dịch Hammerfall, mà không có sự chấp thuận của Quốc hội hay Tổng thống.[3]
Nhật Bản
Sau khi bán đảo Nam Hàn Quốc thất thủ trong chiến tranh, nỗ lực của UNRA tập trung vào Nhật Bản, nơi cơ quan này có nhiều tài sản từ thời kỳ bong bóng kinh tế "di tích Nhật Bản". Tất cả các vùng của Nhật Bản cho đến biên giới phía tây Kanto đều bị ảnh hưởng bởi đám mây Collapse đang lan rộng, nhưng dòng hải lưu Kuroshio và sự thay đổi hướng gió từ Viễn Đông đã che chắn phần còn lại của đất nước. Hokkaido không bị ô nhiễm và chính phủ Nhật Bản đã dời thủ đô đến Sapporo, đồng thời cho phép quân đội Mỹ sử dụng hòn đảo này làm cứ điểm ở châu Á. Kính silicon của tàu điện ngầm và các tòa nhà ở Tokyo dễ dàng được chuyển đổi thành hầm trú ẩn phóng xạ, nơi đã che chở cho hơn 1,2 triệu người sống sót vào giữa tháng 4 năm 2030, và UNRA đã mở rộng nhiệm vụ của mình sang nghiên cứu những thay đổi nhanh chóng trong hệ sinh thái địa phương.
Điều kiện sống vẫn rất khắc nghiệt đối với những người sống sót và chính phủ Nhật Bản miễn cưỡng đồng ý chuyển dân đến Hokkaido qua đường hầm Seikan vào tháng 5 năm 2030 để bảo toàn sự thống nhất quốc gia. Điều này chỉ gây ra các cuộc biểu tình phản đối việc tiếp nhận người sống sót ở Sapporo, và Nội các Nhật Bản, với sự hỗ trợ từ USPACOM, đã bỏ phiếu chống lại bất kỳ cuộc chuyển dân nào nữa. Lực lượng đặc nhiệm UNRA địa phương đã phản đối Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về sự can thiệp của Mỹ vào chính trị Nhật Bản, nhưng trước khi Đại hội đồng có thể nhóm họp, hầu hết các thành viên ủng hộ việc chuyển dân trong nội các đã bị lính thủy đánh bộ Mỹ bắt giữ với cáo buộc gây nguy hiểm cho Hiến pháp Nhật Bản. Nội các phủ nhận mọi sự can thiệp của Mỹ và Hội đồng Bảo an không thể hành động.
Ngày 24 tháng 5 năm 2030, đường hầm Seikan bị phá hủy và chính phủ Nhật Bản cảnh báo lực lượng đặc nhiệm UNRA về việc sắp xảy ra phong tỏa đường biển, đường không và thông tin liên lạc của Honshu, đồng thời cử lính thủy đánh bộ Mỹ đến để xử lý việc sơ tán theo Điều 5 của Hiệp ước Hợp tác và An ninh Tương trợ Mỹ-Nhật. Lãnh đạo UNRA của Khu vực Bảo vệ Tokyo, Sato Mayuka, đã chống lại Đại tá lính thủy đánh bộ được cử đến để ra lệnh sơ tán và bị bắn vào chân. Trong khi hầu hết nhân viên UNRA được sơ tán khỏi sân bay Narita, một số người như Rossartre đã tìm cách trốn và ở lại Tokyo. Giờ đây, bị chính phủ phản bội và hoàn toàn bị cô lập với phần còn lại của thế giới, những người Nhật sống sót đã tổ chức thành các phe phái và xung đột nội bộ bắt đầu, với lực lượng Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản tại địa phương quá ít để làm gì hơn ngoài việc giữ quyền kiểm soát Trại Mishuku. Sử dụng thiết bị liên lạc của nhóm thông tin thuộc Quân khu phía Đông để giữ liên lạc với các đơn vị trinh sát ở vùng Nhật Bản bị ô nhiễm, họ đã biết được về một cá nhân miễn dịch với ELID ở Nagoya, Kawasaki Kazusa, 16 tuổi, và do đó các thành viên UNRA và các trung đội JSDF đã phát động một chiến dịch bảo vệ VIP với hy vọng tìm ra biện pháp đối phó với phóng xạ collapse và cứu Tokyo.
Các binh sĩ Tokyo đã gặp Kazusa ở dãy núi Shizuoka, nơi cô được quân đồn trú Nagoya sơ tán sau khi họ bị tấn công bởi những kẻ cuồng tín coi cô là nguồn gốc của sự ô nhiễm. Sau khi giải cứu Kazusa, Rossartre đã sử dụng kiến thức thu được từ việc nghiên cứu cổ vật và kết nối với mạng lưới liên lạc vệ tinh tàu ngầm hạt nhân Nga để liên lạc với Mikhail Tsvigun và yêu cầu sự giúp đỡ của ông trong việc sơ tán người này. Rossartre được trang bị một thiết bị mang vác để đến Niigata, nơi họ sẽ được đón và đưa bằng đường biển đến Vladivostok. Khi họ khởi hành vào ngày 19 tháng 6 năm 2030, Trại Mishuku bị tấn công bởi các phe phái Tokyo, những kẻ đã biết về Kazusa từ một kẻ phản bội thuộc Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, và cô đã bị giết bởi một viên đạn lạc. Rossartre đưa thi thể của cô đến Niigata, nơi họ được tàu ngầm hạt nhân Alexander III của Nga đón trên biển gần đảo Sado. Sau khi biết được tình hình ở Tokyo từ Rossartre, Sato đã tự sát bằng cách nhảy qua cửa sổ phòng bệnh của mình. Số phận của Khu Bảo tồn Tokyo vẫn chưa được biết đến nhiều năm sau đó.[3]
Liên Bang Nga
Mặc dù vùng Viễn Đông Nga không bị ảnh hưởng bởi đám mây Collapse, nhưng các viên nang chứa Collapse Fluid đã rơi xuống khu vực này, làm ô nhiễm tuyến đường sắt Siberia và tuyến đường sắt chính Baikal-Amur, gây tắc nghẽn giao thông đường sắt. Việc sơ tán được tiến hành bằng đường hàng không vì chất lỏng rò rỉ từ các viên nang không bay lên được tầng khí quyển phía trên.[3] Vào thời kỳ này, cuộc cách mạng mới nhằm khôi phục Liên Xô đang được nhen nhóm. Nhờ Mikhail Tsvigun, các nhóm Bolshevik đã giành được sự ủng hộ ở Viễn Đông nhờ việc hỗ trợ người dân địa phương bằng thông tin tốt hơn chính phủ.[11] Sau khi giải cứu Rossartre và đưa ông ta đến Moscow vào tháng 7 năm 2030, những người Bolshevik đã có được thông tin mật của ông ta về tình hình châu Á và cũng tiến hành khám nghiệm tử thi của Kazusa, nhưng không tìm thấy bất kỳ cách nào chống lại ELID.[3]
Sau sự trỗi dậy của Liên Xô mới vào năm 2032, một dự án cải tạo các cơ sở công nghiệp trong Vùng Vàng bị ô nhiễm dọc theo Đường sắt Siberia đã được khởi động, được đặt tên là Chương trình Đường cứu sinh Siberia. Chương trình này đã sử dụng rộng rãi các robot tự hành để giải quyết vấn đề phóng xạ và trở thành một thành phần quan trọng trong sự phát triển của Doll chiến thuật hiện đại.[9] Liên Xô coi sự can thiệp của Liên minh châu Âu vào Ukraine năm 2043 là sự xâm phạm lãnh thổ của họ và đã đáp trả bằng cách ủng hộ Đông Đức trong cuộc nội chiến Đức.[8]
Châu Mỹ
Các viên nang chứa collapse fluid rơi xuống Thái Bình Dương đã trôi dạt đến bờ biển Bắc và Trung Mỹ, từ Alaska đến Panama, và sự ô nhiễm bắt đầu lan vào đất liền thông qua gió biển. Tại Canada, Yukon và British Columbia đã trở thành những vùng bị ô nhiễm.[3]
Tại Hoa Kỳ, các thành phố phía tây từ Anchorage đến San Diego là những nơi đầu tiên bị ảnh hưởng bởi các đám mây Collapse. Các vụ nổ Collapse Fluid bất ngờ cũng xảy ra ở sâu trong đất liền, như ở Salt Lake City và Phoenix. FBI phát hiện ra rằng các công ty công nghệ Relic đã thu hồi các viên nang và vận chuyển chúng vào sâu trong đất liền, nơi họ đã cố gắng mở chúng bằng vũ lực. Vào tháng 8 năm 2030, những người sống sót chạy trốn khỏi Bờ Tây đã gặp phải các khu vực bị nhiễm bệnh ở sâu trong đất liền, như Denver và Kansas. Washington đã phớt lờ những cảnh báo của Rossartre vào tháng 7 năm 2030 vì thời gian ông làm việc ở Nga. Tuy nhiên, ông vẫn được giao nhiệm vụ lập kế hoạch sơ tán miền tây Hoa Kỳ. Sự thiếu năng lực của chính phủ California và sự từ chối những người sống sót của dân cư Vùng Xanh đã dẫn đến sự thất bại của kế hoạch, và chính phủ Hoa Kỳ đã xây dựng Biên giới Mới, một vùng cấm dài 2300 km trải dài từ Port Arthur đến Winnipeg. Biên giới Mới được hoàn thành vào cuối tháng 12 năm 2030, với rất ít người sống sót đến được phần phía đông của đất nước trước khi nó hoàn thành. Rossartre đã tự sát bằng một viên đạn vào đầu ở Philadelphia vào ngày 15 tháng 1 năm 2033,[3] và những lời chỉ trích của ông về phản ứng của Mỹ đã dẫn đến việc Washington trục xuất UNRA khỏi trụ sở chính ở New York.[9]
Liên minh Mỹ Latinh năm 2038 đã nhanh chóng bị tan rã,[8] phần lớn là do sự can thiệp của Hoa Kỳ.[9] Các phong trào nhằm lật đổ Đường biên giới mới bắt đầu vào năm 2041, và vào năm 2043, Mỹ đã xâm lược Canada thành công và đàn áp phong trào chống Mỹ ở Bahamas.[8]
Châu Âu
Đến quý 3 năm 2030, đã có 4 triệu người tị nạn đổ vào khu vực Euro. Sự xuất hiện của người tị nạn từ châu Á và Trung Đông đã nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn lực của châu Âu và hình thành các khu vực văn hóa biệt lập xung quanh các trại tị nạn, dẫn đến xung đột. Căng thẳng nảy sinh giữa các thành viên Liên minh châu Âu từ chối người tị nạn và những nước chấp nhận họ. Mùa đông năm 2030 lạnh bất thường và châu Âu bị tàn phá bởi bão tuyết vào tháng 12. Thiếu nhiên liệu sưởi ấm đã dẫn đến cái chết của khoảng 2 triệu người.[3]
Năm 2035, do sự gia tăng lòng ngờ vực quốc tế, tổ hợp công nghiệp quốc phòng châu Âu đã thử nghiệm nén chất lỏng Collapse ở Bắc Âu, gây ra sự kiện Cực quang. Một đám mây chất lỏng Collapse mới đã phá hủy bán đảo Scandinavia và được các dòng hải lưu và gió theo mùa đưa từ Biển Baltic đến Biển Adriatic, gây ra thêm bất ổn chính trị và dẫn đến việc hàng chục triệu người Trung Âu phải lưu vong.[9] Điều này bao gồm hầu hết miền Bắc và Đông nước Đức.
Tháng 9 năm 2035, Liên minh châu Âu tìm cách chuyển một số người tị nạn của mình đến Bắc và Nam Mỹ, nhưng không đạt được thỏa thuận nào. Miền Nam nước Đức tiếp nhận phần lớn người tị nạn, và khi chính phủ Đức quyết định đi theo phong trào tân thực dân của EU thay vì cố gắng phục hồi các khu vực bị ô nhiễm, bạo lực bắt đầu nảy sinh giữa các công dân Đức. Những tin đồn về việc các nhà lãnh đạo chính trị và công nghiệp của họ rời đi tìm sự an toàn ở Nam Cực chỉ làm trầm trọng thêm tình hình.[8]
Năm 2036, Liên minh châu Âu gác lại tranh chấp với Liên Xô cũ và nhập khẩu khung xương Doll của họ để thực hiện công tác cứu trợ thiên tai tương tự như người Nga đang làm ở Siberia. Chỉ trong ba tháng, các mạng lưới giao thông quan trọng xuyên qua Vùng Vàng của châu Âu đã được thiết lập, cho phép Vùng Xanh cung cấp cho những người sống sót ở Vùng Vàng thiết bị bảo hộ và các nguồn lực thiết yếu để thiết lập khu định cư và khởi động lại sản xuất công nghiệp. Nhiều quốc gia đã áp dụng hệ thống xổ số để cho phép người tị nạn vào Vùng Xanh. Những vùng bị ô nhiễm này, nằm đủ xa các khu vực trọng yếu, phần lớn đã tránh được những tác động tàn phá của cuộc chiến sắp tới.[12]
Năm 2042, cuộc khủng hoảng kinh tế ở Ukraine, quốc gia lớn nhất không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh hạt nhân ở Đông Âu, đã dẫn đến một cuộc cách mạng vũ trang ở phía đông đất nước, và cuộc nội chiến Ukraine nổ ra sau khi Liên Hợp Quốc thất bại trong vai trò trung gian hòa giải. Khi Kiev rơi vào tay Đông Ukraine, EU cuối cùng đã can thiệp và làm trung gian hòa giải sự chia cắt đất nước[8] trong Hiệp định Bucharest tháng 6 năm 2043,[9] nhằm ngăn chặn một làn sóng cách mạng tiềm tàng ở phần còn lại của châu Âu. Điều này bị Liên Xô coi là sự xâm phạm lãnh thổ của EU. Khi đảng Dân chủ Tự do Đức và Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo viện dẫn Đạo luật Tình trạng Khẩn cấp Quốc gia và tiến hành các vụ bắt giữ chính trị để ngăn chặn đảng Dân chủ Xã hội giải tán Quốc hội, vụ thảm sát tại Cung điện Cộng hòa đã diễn ra vào ngày 14 tháng 11 năm 2044 khi người biểu tình và cảnh sát quân sự đụng độ, khởi đầu cuộc Nội chiến Đức. Các phe phái đối lập được liên minh EU-Mỹ ủng hộ một bên và Liên Xô bên kia[8] đã trực tiếp dẫn đến Chiến tranh Thế giới thứ ba.[9]
Nam Cực
Hố đen di tích dưới Nam Cực, được phát hiện vào năm 2025, đã trở thành nơi trú ẩn quý giá cho những người có ảnh hưởng chính trị và giàu có trên toàn thế giới. Do dự án thăm dò và định cư hoàn toàn do URNA kiểm soát với sự hỗ trợ tài chính của các nhà đầu tư tư nhân, hố đen này là một vùng đất trung lập về chính trị, nằm ngoài phạm vi của một cuộc xung đột toàn cầu tiềm tàng. Khi Chiến tranh Thế giới thứ ba nổ ra vào năm 2045, gần 10 triệu người đã tuyên bố độc lập và tự cô lập mình trong hố đen này.[9]
Các phần còn lại của thế giới
Afghanistan và Việt Nam nằm trong số những quốc gia đầu tiên bị ảnh hưởng bởi đám mây Collapse đang lan rộng. Người tị nạn từ Trung Đông, Đông Nam Á và Nam Á đã đổ xô vào châu Âu sau sự kiện này.[3]
Sau sự kiện cực quang năm 2035, các quốc gia còn lại của Liên minh châu Âu đã hướng ánh mắt tuyệt vọng về phía châu Phi, nơi có những khu vực rộng lớn chưa bị ô nhiễm, và một kỷ nguyên thực dân mới bắt đầu. EU đã trực tiếp tham gia vào cuộc đảo chính ở Libya năm 2037, kết thúc bằng việc Ý hoàn toàn kiểm soát đất nước này vào năm 2041.[8] Chiến tranh Algeria lần thứ hai bắt đầu vào tháng 12 năm 2039.[9]
Sự kiện đảo Beilan thứ hai
Sự kiện "Đảo Beilan thứ hai" xảy ra trong khoảng thời gian từ năm 2094 đến năm 2112.
Trước sự kiện này, cơ quan tình báo MID của Liên minh Nam Cực đã biết được rằng Liên minh các quốc gia Rossartrism đang nỗ lực tiến vào khu di tích đảo Beilan, một khu vực trung lập, phi quân sự. Bản thân khu vực này không quá nguy hiểm do lượng chất lỏng Collapse dự trữ đã được giải phóng vào khí quyển trong sự kiện đầu tiên, nhưng một đám mây chất lỏng đã hình thành gần đó và Cơ quan Y tế Liên Hợp Quốc (United Nations Health Agency, UNHA) cần phải điều tra. MID đã triển khai các đặc vụ bí mật thâm nhập vào đội UNHA trong chiến dịch Brief Blossom.
Nhiệm vụ quan sát nhanh chóng gặp trục trặc khi một phần đội UNHA bị những kẻ bạo loạn giết chết, sau đó nồng độ chất lỏng Collapse tại địa phương đột nhiên tăng vọt, lây nhiễm ELID cho nhiều người và buộc các binh lính Liên minh địa phương phải tiêu diệt những người bị nhiễm bệnh đang hoành hành. Một đặc vụ MID đã kịp truyền tải một thông điệp cho biết địa điểm chứa di vật có chứa phôi thai GAVIRUL trước khi bị tiêu diệt. Đảo Beilan sau đó đã bị san bằng bởi bom nhiệt áp.[13]
References
- ↑ 1.0 1.1 The Art of Girls' Frontline Vol.1, Confidential Files, part. 2
- ↑ 2.0 2.1 2.2 2.3 2.4 2.5 The Art of Girls' Frontline Vol.1, Confidential Files, part. 3
- ↑ 3.00 3.01 3.02 3.03 3.04 3.05 3.06 3.07 3.08 3.09 3.10 3.11 The Art of Girls' Frontline Vol.2, Confidential Files, part. 1
- ↑ 4.0 4.1 Reverse Collapse: Code Name Bakery, Secret Documents#The Establishment and History of the Rescue Foundation
- ↑ 5.0 5.1 Reverse Collapse: Code Name Bakery, Secret Documents#Investigation into the Origin of Religions
- ↑ The Art of Girls' Frontline Vol.1, Confidential Files, part. 4
- ↑ The Art of Girls' Frontline Vol.1, Timeline
- ↑ 8.0 8.1 8.2 8.3 8.4 8.5 8.6 8.7 The Art of Girls' Frontline Vol.2, Confidential Files, part. 3
- ↑ 9.0 9.1 9.2 9.3 9.4 9.5 9.6 9.7 9.8 The Art of Girls' Frontline Vol.2, Confidential Files, Part. 2
- ↑ The Art of Girls' Frontline Vol.1, Worldview
- ↑ The Art of Girls' Frontline Vol.2, Confidential Files, part. 4
- ↑ Reverse Collapse: Code Name Bakery, Secret Documents#Global Affairs and Impacts on Religion
- ↑ The Art of Girls' Frontline Vol.1, Confidential Files, part. 9
| Lore topics |
|---|

